Đời sống

Chuông Văn Bàn – báu vật được kéo lên từ biển

Chuông Văn Bàn – bảo vật quốc gia – được tìm thấy khi người dân kéo lưới ở biển Đồ Sơn, Hải Phòng năm 1958.

Quả chuông được công nhận là bảo vật quốc gia năm 2013, hiện được trưng bày thường xuyên tại khu vực thời Trần (1226-1400): Quốc hiệu Đại Việt – Kinh đô Thăng Long tại tầng 2 Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Theo tài liệu của bảo tàng, vào mùa hè năm 1958, một vật nặng đã vướng vào lưới đánh cá của ngư dân vùng biển Đồ Sơn, Hải Phòng. Họ lặn xuống kiểm tra thì phát hiện một chiếc chuông đồng lớn mắc vào lưới, phải vận động dân làng vớt lên. Các bô lão địa phương, các nhà khảo cổ học xác định đó là chuông chùa Vân Bản – gắn với tháp Tường Long do vua Lý Thánh Tông xây dựng năm 1058. Sau khi phát hiện, chuông đã được chuyển đến Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Nhiều câu chuyện kỳ ​​bí xoay quanh quả chuông được người dân Đồ Sơn truyền miệng. Họ cho rằng cổ vật “nổi và chìm” cùng lịch sử dân tộc. Trước đó, vào thế kỷ 15, quả chuông đã “biến mất” trong cuộc tàn phá di sản văn hóa Đại Việt bởi quân Minh. Lúc bấy giờ, chuông Quy Điền – một bảo vật quý khác – đã bị giặc phá hủy. Vào thế kỷ 19, quả chuông còn “quy ẩn” để tránh phá chùa tháp của Hoàng Cao Khải (quan đại thần thân Pháp thời vua Thành Thái). Trong cuốn sách Đại Nam thống nhất đất nước của triều Nguyễn ghi: “Năm Gia Long thứ 3 (1804) phá tháp (tức tháp Tường Long) lấy gạch xây trấn Hải Dương”.

Người Đồ Sơn có câu: “Họ Lý truyền bao đời / Chùa tàn, tháp đổ, chuông đổ Không Hậu” kể về việc tháp Tường Long đổ, chuông lăn xuống Không Hậu – một khe bên cạnh chùa và tháp. Mọi người được đưa vào chùa Văn Bàn gần đó. Chùa Vân Bản gắn với tháp Tường Long, được xây dựng từ thời Lý, tọa lạc trên núi Rồng, Đồ Sơn. Sau đó, ngôi đền đã bị phá hủy.

Chuông trưng bày tại bảo tàng. Hình ảnh: Hiểu con người

Quả chuông phản ánh nét đặc sắc của mỹ thuật Phật giáo thời Trần. Theo Hồ sơ di sảnTheo Cục Di sản văn hóa, quả chuông được công nhận là bảo vật quốc gia vì đây là cổ vật độc đáo, có từ thời nhà Trần.

Chuông cao 1,27 m, miệng 80 cm, hình trụ đứng, nặng 300 kg. Vành miệng loe được trang trí bởi 52 cánh sen kép lớn nhỏ đan xen. Tay cầm chuông là hình hai con rồng quay mặt vào nhau, đỉnh có hình búp sen. Rồng mang đặc điểm của thời Trần với đầu ngẩng cao, thân mập, vây, vảy, bốn móng bám vào đỉnh chuông. Thân được chia thành tám ô, ngăn cách bằng các đường vân ngang và dọc, trong đó hai ô phía trên có hai bức trướng khắc chữ Hán. Chuông có sáu núm tròn, xung quanh mỗi núm tạo thành hình bông cúc nhiều cánh.

Hai ô trên thân chuông có khắc chữ Hán: một ô có 16 cột, ô còn lại có 10 cột, gồm 250 chữ Hán theo thể chữ. Nội dung nói về nhà sư khổ hạnh Hương Tâm và cư sĩ Đại Ô có công khai phá núi rừng, mở mang bờ cõi, xây dựng chùa Vân Bản. Những người hiến đất cho chùa là anh dũng sĩ Nguyễn Văn Kíp và vợ Chu Thị Trai, em vợ Chu Lâm. Chuông do Tả quan thổi để vào chùa. Các bia ký cũng nhắc nhở các thế hệ mai sau phát tâm tích đức, giữ gìn, không để chùa bị phá hủy … Tuy nhiên, bia ký không ghi rõ thời gian chuông ra đời, chữ cũng không còn rõ ràng.

Năm 1963, nhà nghiên cứu Trần Huy Bá từng cho biết quả chuông có từ thời Lý dựa trên chữ “đinh” trong bia ký, tức năm Bính Thìn (1076) và họa tiết rồng, cánh sen. Năm 1978, PGS. TS Trịnh Cao Tường – nguyên Trưởng phòng Lịch sử Khảo cổ học Việt Nam, Viện Khảo cổ học – cũng đồng tình.

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, quả chuông được đúc vào thời Trần. Năm 1996, khi đang nghiên cứu về bia ký, PGS. TS Ngô Đức Thọ – người từng công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm – phát hiện chữ “ping” khắc trên chuông thực chất là chữ “nam”. Thời Trần, chữ Bình thường dùng để chỉ phương nam khi tả đất, do kỵ binh. Chữ “nam” là một trong 10 chữ do vua Trần Anh Tông quy định. Nhà nghiên cứu Tạ Trọng Hiệp chia sẻ.

Về danh hiệu Tả tỏa, thời Lý không có tài liệu nào ghi chép về vấn đề này. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, trong phần Các quan chức, Phan Huy Chú ghi: “Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), ông được bổ làm Tả bộc xạ”. Chức xạ bắt đầu được thiết lập từ đời Trần Anh Tông, với các chức vụ Tả (xạ) và Hữu (xạ). Một số nhân vật giữ chức vụ này như Trần Hưng Thao (1301), Trần Thời Khiêm (1305), Trần Khắc Chung (1307) Trần Bang Cẩn (1324) … Ngoài ra, trong sách Cổ vật Việt Namchuông được chú thích từ thời Trần, thế kỷ 13-14.

Hiểu con người

Leave a Reply

Your email address will not be published.